BẠCH DƯƠNG KỲ - Bạch Dương Tu SĩBạch Dương Kỳ 2002

Thiên Ân Sư Đức Và Tôn Sư Trọng Đạo ( Sư Mẫu Đại Đức )

Tác giả liangfulai on 2022-09-11 09:53:19
/Thiên Ân Sư Đức Và Tôn Sư Trọng Đạo ( Sư Mẫu Đại Đức )

Sư Mẫu là Nguyệt Tuệ Bồ Tát giáng thế, tức là Nguyệt Quang Bồ Tát giáng thế đời mạt pháp mà trong kinh Phật đã nói.


 Sư Mẫu họ Tôn, húy danh là Tố Trinh, lại có tên là Minh ThiệnĐạo hiệu là Huệ Minh là người Sơn Đông, huyện Đơn, đản sanh vào trước dân quốc năm thứ 17 ( tây nguyên năm 1895, ngày 28 tháng 8 ), đắc đạo vào năm Dân Quốc thứ 7,tấm lòng từ bi rộng lượng, bi nguyện sâu lớn.

 

 

Dân Quốc năm thứ 19, Sư Mẫu cùng Sư Tôn đồng lãnh thiên mệnh. Lúc này là đạo giáng thứ dân, là vận số của hỏa trạch. Sư Mẫu nghe lệnh, khó làm trái ý trời, để cho nam nữ bình đẳng, đều có thể tu bàn, để cho khôn đạo vốn dĩ nghìn năm nay khiêm tốn thầm lặng bắt đầu thật sự có thể xuất đầu,không thua nhường đấng mày râu, đức hạnh của Sư Mẫu thật không thể quên.

 

Dân quốc năm thứ 24 ( 1935 ) Sư Mẫu đến Thiên Tân để khai hoang xiển đạo, cách một năm thì Sư Tôn ở Nam Kinh bị chính phủ bắt nhốt 300 ngày. Lúc bấy giờ các đệ tử đều tâm hoảng ý loạn, sư mẫu của chúng ta trách nhiệm trọng đại, bôn tẩu từ Tế Nam đến Thiên Tân an ủi mọi người : “ Ông trời khảo người, các con chớ có vọng động ( chớ có hành động một cách khinh suất, tùy ý )  ” , liền tiếp đó lại gặp phải chuyện Nhật Bản xâm lược, Trung Quốc kháng chiến; Sư Mẫu chẳng sợ gian khổ vất vả, vẫn cứ bôn tẩu các nơi để bàn đạo.

 

Dân Quốc năm thứ 36 ( năm 1947 ) sau khi Sư Tôn sinh bệnh, Sư Mẫu khóc nức nở mất tiếng, ngày ngày quỳ khẩn cầu Lão Mẫu rằng : “ cúi xin khẩn cầu Lão Mẫu từ bi, đứa con bất tài, phẩm hạnh không tốt này nguyện chết thế cho Sư Tôn, nguyện đem hết thảy số thọ sang hết cho thầy, con ngu đần chẳng có tài chẳng có đức, Tam Tào đại sự, trách nhiệm khó mà gánh vác nổi, khẩn xin Lão Mẫu từ bi thành toàn cho đứa con ngu đần này, để thầy có thể hoàn thành trách nhiệm trọng đại phổ độ Tam Tào ”

 

Sau khi Sư Tôn quy không, tất cả mọi gánh nặng trọng trách đều rơi đè lên đôi vai Sư Mẫu, đủ thứ những bệnh khổ mà ngài đã gặp chịu phải càng chẳng phải là cái mà mọi người có thể tưởng tượng ra được; vì các đệ tử chúng ta mà ngài 3 năm bôn ba, 5 năm đau khóc, điều mà ngài lo sợ là mọi người cuối cùng mê muội mất đi phương hướng, rơi vào sự uổng tu. Ngài đã chịu đựng biết bao nhiêu những hoạn nạn, phát biết bao nỗi buồn lo ưu sầu, đã gánh biết bao nhiêu tội, nhận chịu mọi sự hủy báng, nhẫn nhục gánh vác lấy trọng trách, lại còn phải bôn tẩu khắp nơi, bất chấp mọi thứ để đi độ người.

 

Sư Mẫu bó chân nhỏ, thế nhưng vì đồ nhi mà lên núi xuống biển, qua cầu độc mộc cũng phải hồi hộp mà tiến về phía trước. Bàn chân nhỏ đi đến sưng phù, nứt rồi, chảy máu rồi, Sư Mẫu cũng đều không cho là khổ, có lúc Đạo Trưởng dùng xe đạp một bánh để đẩy Sư Mẫu tiến về phía trước, thế nhưng vẫn là bị chịu sự rung lắc, xóc nảy lên xuống mạnh.

 

Sư Mẫu thường nói rằng : “ Qua cái thôn này rồi thì chẳng có cái tiệm này nữa ” . Ông trời đại khai phổ độ là có mang tính thời gian, chớ chẳng phải là mang tính vĩnh cửu, tu đạo cũng là như vậy, do đó mới nói cơ duyên chẳng thể để lỡ qua.

 

Sư Mẫu đại duệ trí ( tinh thông, hiểu biết sâu xa )

 

Dân quốc năm thứ 37 ( năm 1948 ) do Đảng Cộng Sản hưng khởi, xung đột Quốc-Cộng càng lúc càng kịch liệt. Sư Mẫu có huệ nhãn, biết được Trung Hoa sắp lâm vào cảnh đấu tranh tàn sát chưa từng có, nên nói cùng chúng đại đệ tử rằng : “Các con phải bố thí tất cả những gì đã có, và phải đi càng xa càng tốt. Đài Loan là một bồng lai tiên đảo, nơi đó rất nhiều người có căn tu, các con hãy qua đó để độ những người có duyên ”. Sư Mẫu chỉ thị Lão Tiền Nhân đến phía đông nam khai hoang; lúc bấy giờ những người nghe thấy đều rất kinh ngạc, bởi vì đông nam là chỉ Đài Loan. Đài Loan của lúc bấy giờ cho người ta ấn tượng là nơi hoang vắng hiu quạnh, vả lại trải qua sự thống trị của người Nhật đã lâu, thứ tiếng mà người ta nói nếu chẳng phải là tiếng nhật thì là tiếng đài, vả lại phải rời khỏi đại lục vượt qua biển cả mênh mông để đi khai hoang, do đó mà nhóm của Lão Tiền Nhân vô cùng do dự, Sư Mẫu nói : “ Con đến Đài Loan khai đạo, mười năm đầu nhất định sẽ rất khó khăn, nhưng con phải nhẫn nại, mười năm sau, đảm bảo với con là đại đạo hồng triển, nếu không phải như thế, thiên mệnh mà ta lãnh chính là có vấn đề. 

 

 

Nhiều người biết được sự tiên tri của Sư Mẫu, nên từ giã gia đình, vượt biển sang Đài Loan khai đạo. Chúng tiền bối ban đầu đều nghĩ rằng, chỉ sang Đài Loan một vài năm, đợi khi đạo vụ phát triển rồi sẽ trở về Hoa Lục. Không ngờ sau cuộc chiến ở Hoa Lục, Thống Tướng Tưởng Giới Thạch lãnh đạo Quốc Dân Đảng rút quân sang Đài Loan, nhân dân hai miền mất đi liên lạc từ đó.

 

Năm Dân Quốc thứ 38 ( năm 1949 ), phong vận đổi sắc, Đại Lục bị chiếm đóng, Sư Mẫu đã từng đến Hồng Kông tạm trú để tị nạn.

Năm Dân Quốc thứ 39 ( năm 1950 ), lại do lo lắng tưởng nhớ các đồ nhi, Sư Mẫu lại quay lại Đại Lục muốn cùng tồn vong với các đồ nhi. Sau đó do Đảng Cộng Sản Trung Quốc quấy nhiễu không ngừng, các Tiền Hiền dốc hết sức cầu Sư Mẫu, mới triển chuyển qua Macao, Hồng Kông đến Đài Loan.

 

 

Vào năm Dân Quốc thứ 43 ( năm 1954 ) Sư Mẫu đến Đài Loan ( do Hàn Đạo Trưởng nghênh tiếp ), cư trú tại Đài Trung. Lúc bấy giờ vừa đang đúng vào lúc quan khảo nghiêm trọng, rất nhiều các đệ tử vì bàn đạo mà chịu cái tai kiếp của lao ngục, thậm chí ngay đến một căn phật đường cuối cùng → Sùng Tu Đường cũng sắp bị đóng cửa tịch thu niêm phong; sau khi Sư Mẫu biết được thì bèn an ủi các Tiền Nhân rằng : “ ta biết rồi, chỉ còn cách khẩn cầu Lão Mẫu từ bi thôi ” . Bèn thế là tối hôm đó, Sư Mẫu bèn đến phật đường khấu đầu và nói một cách bi thiết rằng : “ Lão Mẫu từ bi, kiếp nạn của Chúng sinh, hãy để con một mình gánh lấy, nếu phải nhốt thì nhốt con được rồi, đừng có nhốt đồ nhi của con, nếu phải chịu sự giày vò thì giày vò mình con được rồi, đừng có giày vò các đồ đệ của con ! ” . Nói xong, Sư Mẫu bèn nhất khấu, tái khấu, tam khấu … một nghìn khấu thủ … cho đến một vạn khấu thủ. Kết quả là qua một ngày, cứ như là kì tích vậy, phật đường chẳng bị tịch thu niêm phong, trái lại các nhà cầm quyền của chính phủ đã phái các chuyên viên làm một cuộc tìm hiểu xác thực rõ ràng, xác định rằng phật đường chẳng phải là tà giáo theo như công văn đã nói, do đó mà đã giải trừ lệnh cấm. Tiền Nhân vô cùng mừng rỡ bẩm báo lại việc này với Sư Mẫu, Sư Mẫu cũng chỉ khẽ cười nhẹ một cái mà nói rằng : “chẳng có chuyện thì tốt rồi ”. Khi mọi người tắc lưỡi kinh ngạc tán thán, chỉ có vị Tiền Nhân theo hầu bên mình Sư Mẫu là nước mắt trong mờ lóng lánh treo nơi khóe mắt kìm nén không nổi mà rơi xuống, chỉ có cô ấy là biết được, đấy chẳng phải là kì tích, mà là một vạn cái khấu đầu của Sư Mẫu đã làm cảm động thiên địa thần minh. Từ đấy Sư Mẫu bèn ẩn cư, cả năm trời chẳng ra khỏi cửa, cứ thế đã hơn 20 năm, mãi cho đến khi hồi thiên giao chỉ.

 

Trước khi Sư Mẫu quy không, ngài đã từng từ bi dặn dò bảo rõ với mấy vị Lão Tiền Nhân, Tiền Nhân rằng : “Sau khi ta rời khỏiThiên mệnh vẫn chưa thu về, các con phải tiếp tục theo đuổi thiên mệnh thật tốt, tiếp tục mà bàn xuống. Nếu như đại đạo càng bàn càng hồng triển thì là có thiên mệnhnếu bàn không xong mà có thể giữ vững nguyện đã lập thì vẫn có thể thành.

 

Sư Mẫu thành đạo vào ngày 23 tháng 2 năm dân quốc thứ 64 ( năm 1975 ) , hồi thiên giao chỉ, hưởng niên 81 tuổi, Lão Mẫu sắc phong là “ Trung Hoa Thánh Mẫu ” .

9 năm sau khi Sư Mẫu quy không, vào năm dân quốc thứ 73 ( năm 1984 ) lần đầu tiên tại lớp sám hối của Từ Thiện Đường thuộc Gia Nghĩa, dùng thân phận Trung Hoa Thánh Mẫu đến lâm đàn và tặng Ngũ Phúc Tinh cho chúng sanh Đài Loan, và yêu cầu Lão Tiền Nhân của chúng ta cầm một chiếc lồng đèn, đốt cháy bản thân, soi sáng người khác.

“ Một ngọn lồng đèn soi cửu châu,

chỉ nguyện chúng sanh sớm quay đầu,

( Hàn ) Vũ Lâm gốc cội ( Trần ) Oánh Như bàn, 

Dụ Tu, ( Trương ) Ngọc Đài phụ tả hữu,

( Lưu ) Minh Đức cũng cần nhiều bảo trọng,

Ngũ phúc ( cát ) tường đến soi căn do,

một cây đòn gánh Càn Khôn gánh,

kế thừa gánh vác độ Nguyên Thai ” .

 

Dân quốc năm thứ 73 ( 1984 ) Sư Tôn cũng từ bi phê huấn rằng :

“ Ân Vinh thay thầy thừa kế mệnh, tạo tựu Anh Tài đại nhiệm nắm, thay thầy liễu xong việc trong tâm, thiên vận cốt yếu trứ tác thành ” .

Trong huấn văn chỉ thị rõ ràng Lão Tiền Nhân cần phải đại diện truyền thiên mệnh, do vậy Lão Tiền Nhân của chúng ta một vai gánh lên trách nhiệm trọng đại này.

Từ sau khi Sư Mẫu quy không, Nhất Quán Đạo chúng ta ở Đài Loan được nhờ ( đội ơn ) Thiên Ân Sư Đức càng bàn càng mở rộng, vả lại dần dần hoằng dương ra các nước hải ngoại. Đệ tử của Sư Tôn Sư Mẫu đầy khắp thiên hạ, là tình trạng hưng vượng cực kì khó thấy của nhân loại từ lúc có lịch sử ghi chép đến nay. 

 

Số lượt xem : 1459