BẠCH DƯƠNG KỲ - Bạch Dương Tu SĩBạch Dương Kỳ 2002

Xá tội Tam Tào cứu chúng sinh

Tác giả liangfulai on 2023-07-11 12:47:09
/Xá tội Tam Tào cứu chúng sinh

Xá tội】:Xá miễn tội nghiệp。

Tam Tào】:Thiên Tào ( Đại tiên của cõi khí thiên ), Nhân Tào ( vô số chúng sanh), Địa Tào ( u minh quỷ hồn ).

Cứu chúng sinh】:Chúng sinh duy chỉ có trừ tội mới có thể được cứu. 


Xá tội Tam Tào có nghĩa là Tam Quan Đại Đế vì tam tào phổ độ mà đại xá tội nghiệp của Tam Tào : người, quỷ, tiên cầu đạo.

 

Do đặc xá mà có thể siêu sinh liễu tử.

 

Di Lặc cứu khổ chân kinh ở câu này điểm ra một nguyên nhân sở dĩ chúng ta có thể siêu sinh liễu tử : xá tội.

Thường có người trong lòng hoài nghi đưa ra câu hỏi rằng : Nhất Quán Đạo cho rằng cầu đạo có thể siêu sinh liễu tử, vãng sanh thế giới cực lạc, làm gì có cái chuyện tốt như thế; các tín đồ phật giáo vất vả gian khổ tu hành trì giới, ngồi xếp bằng, nhập định…đều chẳng bằng cầu đạo điểm một cái sao ?

 

Quả thật thì chúng ta có thể dễ dàng chặt đứt sự luân hồi, trông có vẻ không công bằng, thậm chí là không thể được. Sở dĩ mà chúng ta có thể siêu sinh liễu tử, có một cái then chốt quan trọng ở chỗ : “ xá tội ”. Chúng ta rất may mắn được đại xá, đặc xá, tội nghiệp lũy kiếp của chúng ta do Tam Quan Đại Đế xá miễn cho, do vậy chúng ta có thể siêu sinh liễu tử. Nếu không, kéo theo những tội nghiệp trầm trọng, làm sao mà vãng sanh tịnh độ ?

 

Chúng sanh sở dĩ có tai bệnh khổ ách, sở dĩ sinh tử luân hồi là do tội nghiệp sâu nặng, nếu như chỉ là giải quyết những tai nạn trước mắt của chúng sanh mà chẳng có tiêu trừ nguyên nhân của tai nạn – Tội Nghiệp, vậy thì là trị ngọn mà chẳng trị gốc, lửa đồng cỏ đốt chẳng hết, gió xuân thổi lại sinh, cái tai này tiêu rồi, cái tai kế tiếp lại đến. Cũng giống như một người nghèo, có thể do cờ bạc, uống rượu chẳng có tiết chế, hút chích ma túy mà nghèo nàn khốn khó, nếu như cho tiền anh ta, có lẽ tạm thời không khốn cùng, nhưng rất nhanh chóng anh ta lấy tiền đi cờ bạc, hút chích, chẳng cần đến 2 ngày lại trở lại sự khốn cùng, cho nên chẳng cách nào giải quyết. Lại như một người do viêm phổi mà ho chẳng ngừng, nếu như cho người bệnh này thuốc chống ho có dược tính mạnh, có thể tạm thời tiêu trừ triệu chứng ho, nhưng không lâu sau lại ho trở lại, bởi vì bệnh viêm phổi chưa khỏi.

Cho nên muốn đoạn trừ cái gốc rễ luân hồi của chúng sanh thì duy chỉ có tiêu trừ tội nghiệp. Phải làm sao tiêu trừ tội nghiệp đây ?

 

Cũng giống như phạm tội bị bắt giam, làm thế nào có thể ra ngục sớm hơn ? biểu hiện tốt có thể được tạm thời phóng thích ra khỏi ngục kèm theo điều kiện, ngoài ra chính là do vận may tốt gặp được sự đại xá, đặc xá. Cái “ xá tội tam tào ” này mà Di Lặc cứu khổ chân kinh nói chính là cơ hội đặc xá khó được. Tội nghiệp nghìn vạn năm của chúng ta khiến chúng ta chẳng cách nào đoạn luân hồi, nhưng chúng ta may mắn gặp được Di Lặc Tổ Sư rộng khai phổ độ, do Tam Quan Đại Đế hành “ đại xá ”, “ đặc xá ” cho chúng ta, xá miễn những tội nghiệp những kiếp trước của chúng ta, để chúng ta được thông qua một chỉ của Minh Sư, được siêu sanh liễu tử, vả lại trong đời này kiếp này không bị tội nghiệp đeo bám quấy rầy, được tu đạo hành công liễu nguyện.

 

Đã từng có một vị điểm truyền sư quả quyết bảo rằng ở phật đường nọ tại Indonesia có ma quỷ ám, bởi vì không phải là một người nhìn thấy, mà là rất nhiều người đều nhìn thấy, đều thắc mắc hỏi rằng : “ phật đường vì sao có tiên phật trấn đàn mà vẫn có ma quỷ ám ? ”

Sau khi hỏi tường tận tình hình của việc ma quỷ ám, phát hiện rằng những ma quỷ này chẳng có ác ý, chỉ là biết phật đường có quang minh, có tiên phật, muốn đến xem có cơ hội cầu đạo hoặc triêm một ít lợi ích gì hay không mà thôi. Có một vị giảng sư gợi ý dán một tấm giấy màu đỏ, trên đó viết “ Tam Quan Đại Đế ” ở cửa của Phật đường làm môn thần, bảo những ma quỷ ấy đi cầu xin Tam Quan Đại Đế xóa tội. Sau đó thì chẳng còn thấy phát sinh những phiền nhiễu này nữa.

 

Nhân gian chỉ có tổng thống mới có quyền lực đặc xá; thời cổ đại thì là Hoàng Đế mới có quyền lợi đặc xá, “ Tam Quan Đại Đế ” chẳng những là Hoàng Đế mà còn là Thánh Vương, tại thế có thể xá tội cho lê dân bá tánh; đại đạo phổ truyền, Di Lặc Tổ Sư bổ nhiệm Tam Quan Đại Đế xá tội Tam Tào ( nhân, quỷ, tiên ).

Chỉ có Tam Quan Đại Đế có thẩm quyền, dùng công đức vô lượng, phật lực vô biên của các ngài để xá miễn tội nghiệp của chúng ta, trừ phi thông qua xá tội, đặc xá để trừ tội, nếu không tội nghiệp đời đời kiếp kiếp của chúng ta lũy tích không biết có bao nhiêu cái tử hình đang chờ đợi chúng ta, chết cũng chết không xong, ở đâu còn có năng lực để tu hành.

   

Đây là cơ hội đặc xá mà nghìn năm khó gặp, phải trân trọng cái cơ hội này phổ độ chúng sanh, báo ân liễu nguyện.

Vĩnh Gia Chứng Đạo Ca nói rằng : “Chỉ tri phạm trọng chướng bồ-đề, Bất kiến Như Lai khai bí quyết. ”

Chúng sanh chỉ biết phạm trọng tội sẽ chướng ngại chúng ta thành tựu bồ đề đại đạo, chẳng tin rằng mang theo trọng tội có thể kiến tánh thành phật, lại chẳng nhìn thấy Như Lai có thể mở bí quyết, mở ra bí quyết thành đạo; bí quyết này chính là nhất chỉ siêu sinh, tiêu trừ những tội nghiệp trọng đại.

 

Khí Thiên Tiên cầu đạo

 

Đại đạo rộng khai phổ độ tam tào : Thiên Tào ( tiên của cõi khí thiên ); Địa Tào ( quỷ hồn, tổ tiên ); Nhân Tào ( chúng sanh cõi nhân gian ) đều có cơ hội cầu đạo.

Lúc mới bắt đầu phổ độ, việc siêu bạt đại tiên đều là do Sư Tôn, Sư Mẫu đích thân điểm hóa; có một lần Sư Mẫu tuyên bố rằng Tiền Nhân của mỗi một tổ tuyến có thể siêu bạt một vị đại tiên, về phần muốn siêu bạt vị đại tiên nào thì do Tiền Nhân tự mình tuyển chọn.

Lúc bấy giờ Hàn Lão Tiền Nhân của tổ Phát Nhất đã siêu bạt Tư Mã Quang; Phan Hoa Linh đạo trưởng siêu bạt trung thần Tỷ Can, lúc kết duyên mới biết Tỷ Can đã là ông thần tài của cõi khí thiên ( Võ Thần tài là Triệu Công Minh, Quan Vũ; Văn Thần Tài là Tỳ Can và Phạm Lãi )

 

Những Đại Tiên đã được siêu bạt sẽ hộ trì đạo trường mà họ đã cầu đạo, do vậy giới sinh viên học sinh của tổ Phát Nhất bàn tốt nhất, còn Tổ Bảo Quang đã độ được nhiều người giàu có phát tâm.

 

Thương Lão Tiền Nhân của tổ Bảo Quang có nhắc đến một ví dụ thật khác về việc siêu bạt đại tiên; có một vị tiền nhân chẳng có bẩm báo với Sư Mẫu, tự tác chủ trương chẳng có xin phép đã siêu bạt một vị Ngũ Phủ Thiên Tuế nào đó ( Ngũ Phủ Thiên Tuế có rất nhiều vị ) ; từ đấy vị Ngũ Phủ Thiên Tuế này mỗi ngày đều thác mộng đến tìm ông ta, nói rằng sau khi được siêu bạt thì vị trí của khí thiên tiên đã chẳng còn, Lí Thiên thì lại không lên được, muốn vị tiền nhân này phụ trách. Vị Tiền Nhân này bị vị Ngũ Phủ Thiên Tuế này làm phiền nhiễu không cách nào chịu nổi, nhờ vả ủy thác Trương Bồi Thành tiền nhân thông qua Chu Phúc Thành tiền nhân bẩm cáo với Sư Mẫu. Sư Mẫu chỉ nói một câu : “ được, để cho vị Ngũ Phủ Thiên Tuế đó lên vậy ! ”. Đêm đó Ngũ Phủ Thiên Tuế lại đến thác mộng cho vị Tiền Nhân đã siêu bạt ngài ấy, tạ ân rồi đi.

 

Cho nên tuy rằng phổ độ Tam Tào, nhưng mà việc siêu bạt Đại Tiên vẫn là có trình tự và thiên mệnh; sau khi Sư Mẫu thành đạo, Lão Tiền Nhân của các tổ tuyến cũng kế thừa sứ mệnh độ Thiên Tào, nhưng càng xử lý thận trọng hơn.

 

Câu chuyện về ông Vương ( bác sĩ ) cầu đạo :

 

Trong Đạo San ( bài báo viết về đạo ) của tổ An Đông đã từng xuất bản qua câu chuyện cầu đạo của một vị tiên cõi khí thiên của miếu Vương Tiên Sinh, từ lúc Vương Tiên Sinh hiển hóa muốn cầu đạo, đến cuối cùng đắc đạo siêu bạt đã trải qua 20 năm. Đây là một câu chuyện rất dài, ở đây chỉ thuật lại ngắn gọn đơn giản.

 

                                   Câu chuyện của miếu Vương Tiên Sinh

 

 

                 

 

                 

 

Khổ Linh Cước của Tân Trúc có một ngôi “ miếu Vương Tiên Sinh ”, vị chủ thần cung phụng trong đó gọi là Vương Tiên Sinh. Vương Tiên Sinh triều đại nhà Thanh đến Đài Loan hành y cứu đời, thích hành thiện bố thí. Năm 1850, ông định cư ở Khổ Linh Cước của Tân Trúc, hành y, tế khốn, giải ách, được dân làng ca ngợi đánh giá cao và yêu quý kính trọng, mọi người tôn xưng là “ Vương Tiên Sinh ” ( Thời kì đầu Đài Loan tôn xưng bác sĩ là tiên sinh ).

 

Vào thời của Từ Hi Thái Hậu, Đài Loan thường có sự xung đột chủng tộc. Vương Tiên Sinh đứng ra giải quyết khó khăn, bị tổng đốc Đài Loan mật cáo bắt giữ xử trảm tại chỗ, nào ngờ đao chém xuống dưới chảy ra máu màu trắng trong suốt, và thi thể đứng không ngã. Tổng Đốc mới rõ rằng đã chém sai người, bèn đem đi hậu táng.

 

Một lần nọ lũ lụt hất quan tài ra ngoài, Vương Tiên Sinh hiển linh bảo với Lí trưởng đem dây thừng lớn buộc lấy quan tài, sau khi nước rút an táng lại chỗ cũ.

Sau khi an táng di hài của ngài thì Đài Loan phát sinh trận ôn dịch, những người trong thôn cầu Vương Tiên Sinh cứu độ, lúc bấy giờ phương thuốc mà ngài đã mở khi kết duyên phê thị đã cứu được rất nhiều người, do vậy những cư dân ở nơi đó ( hiện nay đã hơn 70 tuổi ) vô cùng cảm ân Vương Tiên Sinh.

 

Kết duyên với các đạo thân

 

Dân Quốc năm thứ 52 ( 1963 ) , Vương Tiên Sinh thác mộng mời một vị Lâm Đàn Chủ thay mình cầu xin siêu bạt với Cao Lão Tiền Nhân.

Lâm Đàn Chủ báo cáo với Lão Tiền Nhân, Lão Tiền Nhân nói rằng : “ muốn siêu bạt nhất định phải có tên họ thật sự của Vương Tiên Sinh mới có thể được. Vương Tiên Sinh đêm đó bèn thác mộng bảo với Lâm Đàn Chủ, ngài tên là “ Vương Xuân Phúc ”

Chỉ biết tên họ thì vẫn chưa đủ, siêu bạt tiên cõi khí thiên nhất định cần phải có khoản tiền công đức phí rất lớn mới được; gia cảnh của Lâm Đàn Chủ lại chẳng giàu có gì, tìm Đàn chủ Khâu Nguyên Lai ( nay là Nguyên Đức Đại Tiên ) để thương lượng. Nguyên Đức Đại Tiên nói rằng không sao đâu, mỗi người chúng ta chuẩn bị 10 lượng vàng, ông 10 lượng, tôi 10 lượng, buổi tối thì Vương Tiên Sinh đến thác mộng rằng : “ các ông đừng có lo phiền, tôi sẽ xử lí ”

 

Sau đó, lúa mà Lâm Đàn Chủ trồng đột nhiên trổ bông đôi ( bình thường một cây lúa chỉ kết một bông ) , vả lại mỗi hạt đều tròn đầy, tròn đầy đến mức vỏ trấu đều bao không xuể.

Một kì đã thu được hơn 1 vạn đài cân ( 1 đài cân tương đương với 596 gram ); bác cả, bác hai hai người đồng thời canh tác ở nhà kế bên; vụ gặt thu hoạch của hai nhà cộng lại vẫn chưa bằng thu hoạch của Lâm Đàn Chủ. Lâm Đàn Chủ biết rằng đó là sự hiển hóa của Vương Tiên Sinh.

 

Ngoài việc gặt hái thu hoạch được cực nhiều thóc ra, những rau cải mà ông trồng cũng đều đặc biệt tốt đẹp, củ cải đỏ, củ cải trắng, xe bò một lần kéo 300 – 400 cân đem đến chợ đều bán chạy hết, những nhà buôn bán sỉ đến từ nơi khác đều đặt hàng trước.

 

Dân Quốc năm thứ 59 ( 1970 ) thì tụ tập đủ tiền công đức phí 10 lượng vàng giao nộp cho Tiền Nhân, nhưng nhân duyên vẫn chưa chín muồi. Dân quốc năm thứ 60 ( 1971 ), một trăm ngày sau khi Lâm Đàn Chủ qua đời đến kết duyên phê thị rằng :

 

如今歸後方識透,七府王爺仍氣天,

王先生事待超拔,生死事大乃要關

仙家凡人無兩樣,藉假修真最要關。

Tạm dịch :       

 

Nay trở về rồi mới biết thấu, Thất Phủ Vương Gia vẫn ( thuộc ) khí thiên

Chuyện Vương Tiên Sinh đợi siêu bạt, sanh tử chuyện lớn là trọng yếu

Tiên gia phàm nhân chẳng khác biệt, mượn giả tu thật tối trọng yếu

 

( Tối trọng yếu : quan trọng nhất ) .

Nói rõ rằng Thất Phủ Vương Gia của một miếu khác trong thôn trang vẫn là thần tiên thuộc cõi khí thiên, cũng nhắc nhở họ về việc siêu bạt Vương Tiên Sinh phải hết sức nhanh chóng xử lí.

 

Mãi đến năm Dân Quốc thứ 72 ( 1983 ), nhân duyên đã đầy đủ, hoàn thành việc siêu bạt. Năm thứ 74 Vương Tiên Sinh lâm đàn kết duyên, Lão Mẫu sắc phong làm “ Thiện Đức Đại Tiên ”, kết duyên huấn cảm khái rằng : nhất điểm siêu thiên, chân lí vượt ra khỏi tam giới; và cảm ân 3 vị dẫn bảo sư, cũng chứng minh rằng “ Tam Tào Phổ Độ ” chân thật chẳng hư dối. Trong kết duyên huấn còn phát nguyện “ vĩnh hộ đạo bàn ” ( mãi mãi hộ trì đạo bàn ), sau đó không chỉ là đạo trường An Đông thường có sự hiển hóa giúp đỡ của ngài, những phật đường của các tổ tuyến khác cũng thường cảm nhận được Vương Tiên Sinh giúp đỡ trợ đạo, trong quá trình bàn đạo có rất nhiều những chuyện không thể đều đã biến thành có thể.

 

Vương Tiên Sinh sau khi cầu đạo vẫn tiếp tục tế thế cứu nhân. Những hiển hóa tại Hoa Liên, Đài Trung đều có; có một lần đến Cao Hùng hiển hóa trị bệnh cứu người, người ta hỏi ngài sống ở đâu ? Vương Tiên Sinh nói rằng ở Ô Ngõa Diêu của thành phố Tân Trúc, khi họ tìm thấy miếu của Vương Tiên Sinh, nhìn thấy tượng thần một cái thì nhận ra : chính là ngài rồi !

        

 

Đấy chính là cái gọi là hữu duyên thì gặp được phật xuất thế, vô duyên thì gặp phật niết bàn. Giữa hơn 2000 năm nay lúc Phật Thích Ca Mâu Ni nhập niết bàn cho đến Phật Di Lặc xuất thế cũng có rất nhiều vị trung thần hiếu tử, các nghĩa sĩ, tiết phụ và những đại thiện nhân thích hành thiện bố thí. Công đức của họ đầy đủ nhưng đáng tiếc phật duyên chưa đủ, chỉ có thể thành tựu đại tiên của cõi khí thiên, cho nên Phật Di Lặc xuất thế mở cánh cửa phương tiện, để cho những vị thiện nhân quân tử này cũng có cơ hội siêu sanh liễu tử, nhập hiền quan thánh vực, chứng đắc quả phật.

 

Siêu bạt – Tận đạo hiếu

 

Sự thù thắng của việc xá tội Tam Tào là ngoài việc có thể trên thì độ những vị thần tiên của cõi trời ra, còn có một ý nghĩa rất lớn khác ở chỗ khiến cho con cái có thể tận đạo hiếu. Có một số người khi đắc đạo phụ mẫu đã qua đời, chẳng cách nào độ phụ mẫu của mình đắc đạo, được siêu sanh liễu tử; ơn trên mở cánh cửa phương tiện này khiến cho con cháu có thể có cơ hội độ phụ mẫu đã qua đời, thậm chí ông bà nội ngoại cầu đạo.

 

Đấy là đỉnh điểm, đạt đến cảnh giới cao nhất của đạo hiếu, độ linh tánh của phụ mẫu siêu thoát sanh tử luân hồi. Trên bạt độ Tổ Tiên, gọi là “ siêu bạt ”, dưới bạt độ con cháu, gọi là “ ân bạt ”, ân bạt nếu như không phải là người có đại công đại đức thì không thể được.

 

Lúc đầu, việc siêu bạt phụ mẫu dựa theo phật quy phải độ được 100 người cầu đạo, sau đó Tổ Sư Thiên Nhiên muốn siêu bạt phụ mẫu, độ được đến 64 người thì chẳng cách nào tăng thêm số người được nữa, Kim Công Tổ Sư biết được ý trời như thế, bèn hạ tiêu chuẩn xuống, độ được đến 64 người thì có thể siêu bạt. Hiện nay các tổ tuyến đối với các quy định của việc siêu bạt là không giống nhau.

 

Có một số tổ tuyến không chủ trương việc siêu bạt, bởi vì lo lắng cân nhắc đến việc tổ tiên có thể đã đầu thai. Nhưng thật ra điều này không biểu thị rằng chúng ta không có cách nào siêu bạt tổ tiên được độ. Bởi vì con cháu nếu có thể hành công lập đức, phát tâm tu bàn trên đạo trường, tổ tiên sẽ đến vườn Địa Tạng để nghe Địa Tạng Vương Bồ Tát giảng kinh thuyết pháp. Địa Tạng Vương Bồ Tát sẽ sắp đặt cho họ đầu thai chuyển thế đến những gia đình tu đạo. Tổ tiên chuyển kiếp đến những gia đình mà có đạo duyên thâm hậu, sanh ra thì có thể cầu đạo, tu đạo, là một loại siêu bạt gián tiếp khác. Cho dù là sau khi tổ tiên đầu thai đã rất lâu rồi, con cháu mới bắt đầu tu bàn đạo, tổ tiên cũng sẽ do công đức của con cháu mà nhân duyên chín muồi, sẽ xuất hiện những đạo thân hữu duyên đi độ hóa họ cầu đạo.

 

Mao Sơn Đạo Sĩ tận mắt chứng kiến cảnh siêu bạt

 

“ Xá tội Tam Tào ” ngoài việc trên độ Đại Tiên, giữa độ chúng sanh ra, lại còn có dưới độ quỷ tộc.

 

Cao Lão Tiền Nhân của tổ An Đông đã từng giảng thuật một đoạn ví dụ thật của việc siêu bạt :

        Một vị đạo thân họ Trạm ở Hồng Kong, một nhà lớn nhỏ đều là đạo thân, chỉ duy nhất một điều là không có cách nào độ được người anh trai của ông ta cầu đạo, bởi vì anh trai của ông ta là truyền nhân của Mao Sơn Đạo. Mọi người đều biết “ Mao Sơn Đạo Sĩ ” là thật sự biết làm phép thỉnh thần phục quỷ, chứ không phải là những thầy bịp bợm. Anh trai của ông ta học đạo thuật đã đến mức có thể biết được những chuyện phát sanh của quá khứ và vị lai, và sau khi dùng nước bùa để rửa mắt thì có thể nhìn thấy quỷ thần của linh giới, có thể trực tiếp nói chuyện với quỷ thần, do vậy mặc cho em trai mình miệng lưỡi lanh lợi khéo léo nói thế nào đi nữa cũng không thể lay động được ông ta đi cầu đạo.

 

Một hôm, Trạm Thường Thiêm muốn siêu bạt phụ thân, bảo với anh trai là Trạm Thường Canh rằng : “ anh không tin đạo cũng chẳng sao, nhưng hôm nay phải siêu bạt cha, cho nên bất luận thế nào anh cũng nhất định phải tới ”, vất vả gian khổ vô cùng để kéo anh trai đến phật đường, hy vọng anh trai sẵn tiện cầu đạo, nhưng anh trai của ông ta nói thế nào cũng không chịu.

 

Việc siêu bạt thần tiên của cõi khí thiên cũng giống với những người bình thường cầu đạo, dùng tờ Long Thiên Biểu ( dương biểu ); siêu bạt vong linh thì dùng “ âm biểu ”. Vong linh chẳng cách nào dùng nhục thân đến đàn cầu đạo, cho nên do con cháu lấy một mẫu giấy nhỏ ( thăm ) viết tên họ của vong linh đính ở chỗ huyền quan của mình, lúc điểm đạo thì điểm truyền sư sẽ điểm vào mẫu giấy nhỏ đó.

   

Chưa cầu đạo thì không thể tiến vào phật đường tham dự bàn đạo, do vậy buộc phải để cho anh trai của ông ta ngồi ở sân trong của phía ngoài phật đường chờ đợi. Nghi thức siêu bạt bắt đầu, Trạm Thường Thiêm thành kính đỡ lấy mẫu giấy ( thăm ) ghi họ tên của cha quỳ ở trước phật, khi điểm truyền sư gọi họ tên của vong linh, vị chấp lễ ở chỗ cửa ngoài phật đường bắt đầu hô tên họ của cha của ông ta.

 

( Cái nghi thức này gọi là “ hô thăm ”, sau khi điểm truyền sư kêu họ tên của người chết, tiếp đó vị Chấp Lễ ở cửa phật đường kêu gọi họ tên của vong linh, thông qua nghi thức này vong linh được từ cõi âm đi ra, đi đến phật đường để tiếp nhận một chỉ điểm của Minh Sư )

Lúc này Trạm Thường Canh đứng bên ngoài phật đường tận mắt nhìn thấy cha của anh ta trên người mặc y phục rách nát ô uế, máu tươi đầm đìa đầy khắp mặt mũi đi đến. Trạm Thường Canh nhất thời hưng phấn kéo lấy tay của cha mình trực tiếp gọi : “ cha ! cha ! ”, thế nhưng cha của ông ta mặc kể chẳng đếm xỉa đến, thậm chí chẳng nhìn đến một cái, hất tay của anh ta ra rồi đi đến phật đường. Cha của anh ta mất do bị người khác đánh chết, anh ta vẫn nhớ cha mình lúc lâm chung chính là hình dạng thế này, trải qua lâu như thế rồi mà một chút cũng chẳng có thay đổi.

 

Sau khi nghi thức siêu bạt kết thúc, anh ta lại nhìn thấy cha mình đi ra ngoài, nhưng là đã đổi một bộ y phục cả người sạch sẽ, vết máu trên mặt không biết làm sao mà cũng chẳng thấy nữa, toàn thân tản phát ra ánh sáng chói ấm áp dễ chịu. Anh ta lại tiến lên trước gọi cha, cha của anh ta vẫn bỏ mặc không đếm xỉa đến, anh ta lại kéo tay của người cha, người cha lại hất tay của anh ta ra, theo một vị tiên nhân có gương mặt thánh khiết từ bi đằng không mà đi ( bay lên trời ), không lâu sau thì biến mất. Thì ra vong linh sau khi đắc đạo là có tiên phật đến tiếp dẫn, trực tiếp về Lí Thiên. Vị Mao Sơn Đạo Sĩ này tận mắt nhìn thấy quá trình vong linh của cha đắc đạo, không thể không tin rằng Nhất Quán Đạo tuy chẳng có pháp thuật thần thông, nhưng quả thật có thể siêu sanh liễu tử, có thể lên thiên đường.

 

Do vậy, anh ta bèn vội vội vàng vàng xông vào phật đường : “ tôi muốn cầu đạo ! tôi bây giờ muốn cầu đạo ! ”. Mọi người đều tưởng rằng anh ta đang đùa : “ vừa nãy khuyên anh mãi nửa ngày nói đến khô cả miệng rồi, nói thế nào anh cũng không cầu, sao giờ đây đột nhiên muốn cầu đạo vậy ? ”. Thế là anh ta bèn đem tất cả những gì anh ta đã nhìn thấy ở ngoài phật đường lúc siêu bạt kể lại từ đầu, lúc này mọi người mới tin anh ta thật sự muốn cầu đạo. trong lòng của Trạm Thường Thiêm kích động không ngừng; một mặt là vui mừng cha của anh ta đã chắc chắn siêu sanh liễu tử, mặt khác anh trai của mình cuối cùng đã muốn cầu đạo.

 

Điểm truyền sư lập tức vì anh ta mà bàn đạo lần nữa; khi anh ta quỳ trước phật, lúc Điểm truyền sư phải truyền tam bảo, anh ta nhìn thấy Quán Thế Âm Bồ Tát hiện thân, mượn nhờ nhục thân của Điểm Truyền Sư để điểm đạo; anh ta kinh ngạc đến đờ cả người ra, đột nhiên nói : “ đợi một lát ”, mọi người lại tưởng rằng anh ta lại hối hận nuốt lời không cầu nữa, nào ngờ anh ta nói rằng : “ đạo tốt như thế này, tôi phải đem cả nhà đến cùng cầu đạo ”, do vậy anh ta lập tức hối hả trở về nhà, đem cả nhà từ lớn đến bé đều dẫn đến phật đường để cùng cầu đại đạo trân quý này.

 

Sau khi cầu đạo, anh ta nhận thức thể hội sâu sắc rằng đạo thuật tuy có thể nhìn thấy những cái mà người khác không nhìn thấy, có thể làm những việc mà người khác không làm được, nhưng lại không thể siêu sanh liễu tử, học đạo thuật đầy mình mà thoát không nổi sự luân hồi, học càng nhiều đi nữa, càng tinh thông đi nữa cũng vô ích, cho nên không bao lâu sau thì anh ta dẫn các đệ tử của mình đến phật đường cùng cầu đạo.

   Anh ta vì nhìn thấy được quỷ thần, tận mắt đã chứng minh cho chúng ta nhân duyên thù thắng của việc “ xá tội tam tào ” này có có thể độ những chúng sanh Tam Tào. Chúng ta rất may mắn tại thời cơ này cầu đạo, tu đạo; quá khứ trước đây là không có loại cơ duyên này có thể bàn Tam Tào đâu.

 

Liên quan đến việc siêu bạt, phải nhấn mạnh rằng việc bàn siêu bạt nhất định phải có đủ công đức, nếu không điểm truyền sư sẽ gánh lấy nghiệp chướng.

 

Chu Phúc Thành Lão Tiền Nhân lúc vãn niên thường bàn việc siêu bạt; ông là một vị Tiền Nhân lập nguyện gánh kiếp cứu đời, tồn tâm thái vì chúng sanh gánh lấy nghiệp chướng mà bàn siêu bạt, chẳng có yêu cầu độ đủ 32 người. Nhưng ông cũng vì thế mà bệnh tình nghiêm trọng ; ông không chỉ siêu bạt cho phụ mẫu của các đạo thân, thậm chí chỉ cần nhớ được họ tên của bạn thân thì cũng siêu bạt cho họ. Lão Tiền Nhân thường nhớ đến tên họ của một cố nhân nào đó thì bảo hậu học đến bàn việc siêu bạt…Lão Tiền Nhân muốn nhân lúc mình vẫn còn tại thế, trên tay có thiên mệnh, có thẩm quyền siêu bạt, chỉ cần là những chúng sanh quen biết với ông đã kết qua một chút duyên, ông đều vì họ mà bàn việc siêu bạt.

   

Sau đó Lão Tiền Nhân đã quy không rồi, Thương Lão Tiền Nhân tiếp nhiệm thay thế cũng ở vài năm cuối đời của mình vì rất nhiều đạo thân mà bàn việc siêu bạt, hy vọng sau khi siêu bạt con đường tu bàn càng chẳng có chướng ngại. Sau khi bàn việc siêu bạt thì căn bệnh ung thư của ông vốn dĩ bác sĩ cho rằng đã hoàn toàn bình phục chữa khỏi lại nhanh chóng phục phát lại, chưa đến nửa năm thì ông đã quy không rồi.

 

Có vị Điểm Truyền Sư nọ cũng bàn qua một lần, sau khi lãnh mệnh, Thương Lão Tiền Nhân nhiều lần hỏi vị Điểm Truyền Sư nọ : “ có bàn siêu bạt hay không ? ”, dặn dò anh ta rằng : “ Lễ Bổn của cậu có dương biểu cũng có âm biểu ”; siêu bạt là chức trách của Điểm Truyền Sư, cũng là sự thù thắng của “ Tam Tào Phổ Độ ” của Nhất Quán Đạo, hối thúc Điểm Truyền Sư nọ nhất định phải bàn. Vị Điểm Truyền Sư nọ nghe lệnh bàn qua một lần, trước khi bàn siêu bạt cũng thỉnh thị qua Tiền Nhân rằng : “ vị đạo thân này chưa có độ đủ 32 người, nói rằng sau này bổ sung bù thêm, vả lại cha của anh ta lúc còn sống là phản đối “ đạo ” ”. Sau lần siêu bạt đó, vị Điểm Truyền Sư nọ đã cảm nhận được cái gì gọi là gánh lấy nghiệp chướng; chẳng những bản thân gia đình Điểm Truyền Sư nọ gặp tai họa liên miên, mà những vị đạo thân làm Chấp Lễ hôm đó sau đó ai cũng sinh bệnh, có người phải mổ, có người thì thoái đạo. Vị Điểm Truyền Sư đó mãi cho đến nay đều cảm thấy có lỗi và xấu hổ với họ. Từ đấy trở đi, nếu không phải thật sự đã độ đủ 32 người thì không dám bàn việc siêu bạt.

 

 

Số lượt xem : 339