BẠCH DƯƠNG KỲ - Bạch Dương Tu SĩBạch Dương Kỳ 2002

Kim Cang Diệu Nghĩa – Tháp đèn trí tuệ ( phần 1 )

Tác giả liangfulai on 2023-07-12 15:56:39
/Kim Cang Diệu Nghĩa – Tháp đèn trí tuệ ( phần 1 )

金剛妙義    智慧燈塔()

Kim Cang Diệu Nghĩa – Tháp đèn trí tuệ

( phần thượng )


 

 

 

Kinh Kim Cang là một bộ kinh điển rất thù thắng trong kinh phật, ảnh hưởng cực lớn đối với nhân loại của toàn thế giới. Rất nhiều người đọc tụng hoặc nghiên cứu Kim Cang Kinh mà đạt được sự cảm ứng, thậm chí đến mức ngộ đạo, tu chứng, đạt đến minh tâm kiến tánh, liễu thoát sanh tử, siêu phàm nhập thánh, con số ấy đếm không xuể. Bởi vì kim cang kinh giúp chúng ta nhận biết bổn tánh của bản thân mình, khiến cho bổn tánh phát huy diệu trí tuệ vô thượng, tiến đến có thể đoạn dứt tất cả mọi pháp, phá mọi phiền não để đạt đến thượng cầu phật trí, hạ độ chúng sanh, đạt đến cảnh giới của giác hành viên mãn. Thế nhưng phải làm thế nào để nhận biết bổn tánh của mình đây ? trước hết phải tìm cầu sự điểm truyền của Minh Sưbiết được nơi tồn tại của bổn tánh, sau đó lại đi thể ngộ khảo sát diệu đế ( những nghĩa lý vi diệu ) của kinh văn, và cùng với sự phản quán tự chiếu của bản thân ( tự quán chiếu soi ngược lại bản thân ) để khế hợp thể dụng của đại đạo, như thế mới có thể hiểu rõ diệu nghĩa của Kim Cang Kinh, càng hiểu rõ sự tôn quý và thù thắng của Nhất Quán Tâm Pháp mà Thánh Phật truyền thụ. Đức Thế Tôn nói rằng : “ ngô hữu chánh pháp nhãn tạng,, niết bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, vi diệu pháp môn, bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, phó chúc Ma Ha Ca Diếp. ” Đấy là Phật Thế Tôn trên hội Linh Sơn, cái phá nhan vi tiếu ( khẽ mỉm cười ) của Ca Diếp, và Tu Bồ Đề tại Kì Viên được nghe bí pháp “ như thị trụ hàng phục kì tâm ” ( phải trụ tâm hàng phục tâm như thế này ), ý nghĩa là giống nhau. Đấy là ấn chứng của Chư Phật Bồ Tát từ xưa đến nay, mặc truyền dặn dò tâm pháp vô thượng. Hiện thời Nhất Quán Đạo ứng vận phổ truyền, truyền thụ đốn pháp minh tâm kiến tánh, khiến cho chúng ta đắc thụ tâm pháp nhất mạch tương truyền của Phật Môn, mở ra cái khiếu trí tuệ của chúng ta, phá vỡ cái khóa xiềng xích của sanh tử, nhìn thấy tự gia bồ tát ( bồ tát của nhà mình ), đắc được thanh tịnh giải thoát, đấy là sự thù thắng và tôn quý biết bao nhiêu. Sau đây chúng ta sẽ nghiên cứu tâm pháp vô thượng và diệu trí tuệ của Kim Cang Kinh của Phật Thế Tôn.

 

1. Điển cố của Phật Đà, nguyện nghe tỉ mỉ tường tận

 

Tây lịch ngày 8 tháng 4 năm 565 của kỉ nguyên trước, ( tức năm thứ 24 đời Chu Chiêu Vương, cách nay hơn 2575 năm, tại nước Ca Tì La Vệ của Trung Ấn Độ, Quốc vương tên gọi Tịnh Phạn, hoàng hậu phu nhân Ma Gia vào ngày đó đã đản sanh một bậc đại Thánh ảnh hưởng đến nhân loại của toàn thế giới, Phật Thích Ca Mâu Ni; sau khi ra đời cất 7 bước, tự nói rằng : “ trên trời dưới đất, duy ngã độc tôn ” ( cái ngã “ tôi ” này là chỉ phật tánh chơn ngã ) , lúc nhỏ được mệnh danh là Tất Đạt Đa, ý nghĩa là cát tường viên mãn, mọi thứ thành tựu. Sau khi thái tử ra đời 7 ngày, mẫu hậu chẳng may qua đời, vãng sanh cung trời Đao Lợi, bèn do người dì nuôi dưỡng khôn lớn. Thái Tử lúc 7,8 tuổi học tập tiếng phạn, bởi vì thiên chất thông minh lanh lợi. nghe một biết 10, uyên bác tinh thông các loại học vấn, văn võ song toàn; năm lên 16 tuổi kết hôn với công chúa nước láng giềng Da-du-đà-la, sau đó sinh ra một đứa con trai, tên gọi là La Hầu La. Bởi vì Thái Tử vào những ngày đầu du 4 cửa thành, nhìn thấy nỗi đau khổ sinh, lão, bệnh, tử của thế gian, do vậy lúc 19 tuổi, ngài rời khỏi hoàng cung để tu hành, đi theo đuổi chân lý cứu cánh rốt ráo của đời người, và con đường làm thế nào để giải thoát những khổ nạn của chúng sanh. Trước tiên, thái tử học tập các thứ ngoại đạo, nhưng đều chẳng thể đắc được giải thoát cứu cánh rốt ráo, bèn vào núi tuyết, khổ tu 6 năm, mỗi ngày ăn một hạt lúc mạch, hạt mè dẫn đến tứ chi chẳng có sức, hình dung tiều tụy, ngài bèn từ bỏ lối tu khổ hạnh, đúng lúc tiếp nhận sự cúng dường sữa dê của cô gái chăn dê, ngài mới khôi phục lại thể lực, đi đến dưới cây bồ đề của núi Già Da phụ cận để tĩnh tọa, thề nguyện nếu không chứng chánh đẳng chánh giác, thề chẳng đứng dậy khỏi chỗ ngồi này. Ngài bèn tập trung ý chí, tiến vào thiền định thâm sâu, thông qua những khảo nghiệm của quần ma, cuối cùng vào ngày mồng 8 tháng 12 năm 35 tuổi, đêm nhìn thấy sao sáng, ngài hoát nhiên giác ngộ mọi chân lý, khế nhập thật tướng của các pháp, chứng đắc vô thượng chánh đẳng chánh giác. Từ đấy ngài giảng kinh thuyết pháp 49 năm, quảng độ vô số vô biên chúng sanh cùng quy về con đường giác; cuối cùng hóa duyên đã tận, vào Tây Nguyên ngày 15 tháng 2 năm 486, ngài nhập diệt dưới hai cây Sa La, hưởng thọ 80 tuổi, là bậc đạo sư của người, trời, là giáo chủ của phật giáo để lại vô số kinh điển, là bậc đại giác chỉ dẫn chúng sanh ra khỏi biển khổ sanh tử. Các đệ tử Bạch Dương nên noi theo tinh thần tự giác giác tha của Phật Đà, tích cực tu bàn, đức tuệ song tu, hướng đến tương lai giải thoát cứu cánh rốt ráo.

 

 

2. Kim Cang Bảo Điển, nguyên do thuyết pháp

 

Sự hoàn thành của Kim Cang Kinh là Tập vấn đáp của việc Tu Bồ Đề hướng về Phật Thế Tôn thỉnh giáo chân lý của đại đạo. Nơi mà Phật Thích Ca Mâu Ni diễn thuyết Kim Cang Kinh là trong Vườn Cấp Cô Độc của phía nam thành Xá Vệ thuộc Trung Ấn Độ. Căn cứ theo những ghi chép thì Phật Thế Tôn sau khi chứng đạo, chia ra 5 thời thuyết giáo ( tức giáo pháp của phật được phân giảng thành 5 thời kì )

1. Thời kỳ Hoa Nghiêm : Sau khi Phật thành Đạo trong 27 ngày liền Phật thuyết Kinh Hoa Nghiêm. Đó là theo tên Kinh mà đặt tên.

 

2. Thời kỳ Lộc uyển ( A Hàm ) : Sau khi thuyết Kinh Hoa Nghiêm, trong khoảng 12 năm Phật thuyết Kinh A Hàm Tiểu Thừa tại vườn Lộc dã. Đó là lấy tên đất mà đặt tên Kinh.

 

3. Thời kỳ Phương Đẳng : Diễn thuyết kinh Duy Ma, Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh, Kinh Lăng Già, tổng cộng 8 năm.

 

4. Thời kỳ Bát Nhã : Ngài thuyết kinh Đại Bát Nhã 600 quyển, tổng cộng 22 năm.

 

5. Thời kỳ Pháp Hoa và Niết Bàn : tại núi Linh Thứu ngài thuyết kinh Pháp Hoa, tổng cộng 8 năm; một ngày một đêm thuyết kinh Niết Bàn. Đó là theo tên của Kinh mà đặt tên.

 

Trên là ngũ thời thuyết giáo của Phật Đà; thời kì diễn thuyết Kim Cang Kinh chính là nói vào hội thứ 9 của thời thứ 4 ( thời Bát Nhã ) . Nói đến thời đại này là tương ứng với năm thứ 9 thời Chu Mục Vương của Trung Quốc. Khi Phật Thế Tôn đích thân giảng kinh thuyết pháp chẳng có bút ghi chép lại thành tài liệu; đợi đến sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni diệt độ, tôn giả Đại Ca Diếp triệu tập chúng tăng dùng để tập kết di giáo, do A Nan Tôn Giả tụng ra kinh tạng, Ưu Ba Li tụng ra Luật Tạng, là lần kết tập thứ nhất. Kinh Kim Cang thông qua việc đọc thuộc lòng của A Nan, đợi đến thời vua A Dục, lại dùng tiếng Bali và tiếng phạn ghi chép lại xuống; sau đó do Cưu Ma La Thập phiên dịch thành tiếng hán, lại thông qua Thái Tử Chiêu Minh đem Kim Cang Kinh chia thành 32 phần, ngoài ra còn thêm đề mục phân biệt khiến cho ý nghĩa và tông chỉ của kinh biểu lộ ra rất xác thật rõ ràng. Trên là nguồn gốc của quyển sách Kim Cang Kinh này.

 

3. Thiện hiện khải thỉnh, nhân duyên của pháp hội

 

Phật Thích Ca Mâu Ni vì một đại sự nhân duyên mà giáng thế, thuyết pháp phổ độ chúng sanh. Tu Bồ Đề lại còn có tên là Thiện Hiện, là nhân duyên chín muồi, tại pháp hội thiết lập ở Kì Viên, đưa ra nghi vấn đối với chân lý của đại đạo, là Tập Vấn Đáp của việc thỉnh thị Phật Thế Tôn, theo đó thành nguyên do của pháp hội. Chương đầu của Kim Cang Kinh nói rằng : “Ta nghe như vầy: Một thuở nọ, đức Phật ở trong vườn Kỳ-Thọ, Cấp-Cô-Độc, tại nước Xá-Vệ, cùng với chúng đại Tỳ-kheo, một nghìn hai trăm năm mươi người câu-hội. Lúc đó, gần đến giờ ăn, đức Thế-Tôn đắp y, cầm bát, vào thành lớn Xá-Vệ mà khất thực. Trong thành ấy, đức Phật theo thứ tự, ghé từng nhà, khất-thực xong trở về Tịnh-Xá, dùng cơm, rồi cất y-bát, sau khi rửa chân xong, đức Phật trải tòa mà ngồi.

Đại ý của đoạn chương cú này là A Nan Tôn Giả, tại giảng đường của vườn Kỳ-Thọ Cấp Cô Độc của nước Xá Vệ, những đệ tử đi theo Phật Đà có 1250 người, nhìn thấy Thế Tôn đến lúc ăn cơm, cảnh tượng ngài cầm bát đến thành lớn Xá Vệ mà khất thực xong lại trở về Tịnh Xá; trọng điểm của chương này là nhấn mạnh rằng tâm bình thường chính là đạo. Thân là Phật Đà đã chứng đạo, vẫn phải hóa duyên, đi bộ, ăn cơm, rửa chân, đả tọa, giống như những người bình thường vậy, đều tự mình làm lấy, là bình phàm như vậy, cho nên chân lý là ở giữa cái bình phàm nhất trong ngày thường, đấy là cảnh giới của tiên phật. Cho nên cái nhân đạo ( đạo làm người ) bình phàm nhất viên mãn, tức là sự hoàn thành của Thánh Đạo. Tiếp đến Trưởng Lão Tu Bồ Đề thỉnh vấn đức Thế Tôn hai việc, một là làm thế nào để khiến cho tâm bồ đề thường trụ chẳng thoái chuyển ( nên trụ tâm như thế nào ? chỉ địa điểm của bổn tánh ở đâu ), một việc là làm thế nào có thể khiến cho cái tâm vọng tưởng bị hàng phục ? ( nên hàng phục cái tâm ấy như thế nào ? phương pháp suất tánh như thế nào ? ) ( suất tánh : dựa theo thiên tánh, bổn tánh mà hành )

Phật Thế Tôn đáp rằng : "Nay ông nên lắng nghe, Ta sẽ vì ông mà nói. Trang thiện-nam, người thiện-nữ, phát tâm Vô-thượng Chánh-đẳng Chánh-giác, phải trụ tâm như thế nầy, phải hàng-phục tâm mình như thế nầy"...

 

Phật Thế Tôn mệnh lệnh cho Tu Bồ Đề tiến gần về phía trước, vào một sát na ( trong khoảnh khắc chớp nhoáng ) lắng nghe, bèn chỉ điểm nơi ở của bổn tánh ( huyền quan khiếu ) “ như thế này ” , tâm bồ đề bèn có thể thường trụ chẳng thoái chuyển, nếu có thể quán chiếu chỗ của bổn tánh như thế này thì tâm vọng tưởng đã hàng phục chẳng khởi lên rồi. Chẳng lấy gì làm lạ khi Tu Bồ Đề hướng về Phật Thế Tôn mà bạch rằng : “Vâng, bạch đức Thế-Tôn!”, cũng chính là trong lòng đã hoát nhiên biết được nơi tồn tại của bổn tánh, vào cái sát na ( trong khoảnh khắc chớp nhoáng ) mà Phật nói mấy câu này, Tu Bồ Đề đã lãnh hội được đạo rồi, do vậy Tu Bồ Đề đã nói rằng : “Hi-hữu thay, đức Thế-Tôn! Đức Như-Lai khéo hay hộ-niệm (護念)các vị Bồ-tát, và khéo hay phó-chúc cho các vị Bồ-tát!”. Có thể thấy rằng việc được Minh Sư điểm truyền nơi tồn tại của bổn tánh là tôn quý biết nhường nào !

 

Chú giải :

“ Vâng ”, là từ đồng ý, tán thành, vừa mới nghe lời của Phật đã lập tức lãnh ngộ ý chỉ uyên thâm vi diệu ở cái lý nên trụ tâm, hàng phục tâm như thế này, đã triệt để hiểu rõ. Sự hộ niệm và phó chúc của Như Lai, người khác vẫn chưa có thể nhìn thấy được, duy chỉ có một mình Tu Bồ Đề có thể nhìn thấy, thay mặt cho đại chúng phụng thỉnh về việc trụ tâm và hàng phục tâm, quả nhiên được phật ca ngợi tán thán “ hay thay ! hay thay ! ”. Người tập kết kinh viết ra tình cảnh Tu Bồ Đề cả đời khiêm tốn thỉnh giáo, tự cảm thấy vui vì lãnh hội không có sự sai khác. Thế nhưng vì đại chúng vẫn chưa thể hiểu, do vậy lại thỉnh vấn. "Vâng, bạch đức Thế-Tôn! Con nguyện vui thích muốn nghe."

 

“ nguyện vui thích ”, 3 từ này biểu thị sự vô cùng ngưỡng mộ của đại chúng, cũng có thể biểu thị sự vô cùng ngưỡng mộ vì ( thay cho ) những chúng sanh khỗ não của thời mạt pháp. Chữ nghe này tương ứng với chữ nghe của phần đầu kinh “ tôi nghe như vầy ”. Nếu chẳng có cái nguyện vui thích nghe của Tu Bồ Đề thì A Nan làm thế nào mà được nghe.

Tham khảo thêm :

Trong Lục Tổ Đàn Kinh, phẩm Hành Do có viết :

“ Nửa đêm thọ pháp chẳng ai biết, Tổ bèn truyền pháp đốn giáo và y bát nói rằng: Ngươi là Tổ thứ sáu, khéo tự hộ niệm (護念), độ khắp hữu tình, phổ biến lưu truyền cho đời sau, đừng để đoạn dứt. 

 

4. Đại thừa chánh tông, diệu hạnh vô trụ

 

Tu Bồ Đề được Phật Thế Tôn chỉ thụ cho pháp môn vô thượng của nơi trụ như thế này; tiếp theo Phật Thế Tôn lại tiếp tục diễn thuyết pháp tu trì bồ tát đạo của Đại Thừa Chánh Tông. Đại thừa chánh tông của Kim Cang Kinh phần thứ 3 nói rằng : “Đức Phật bảo ngài Tu-Bồ-Đề: "Chư Bồ Tát Ma Ha Tát phải hàng-phục tâm mình như thế này: bao nhiêu những loài chúng-sanh, hoặc là loài noãn-sanh, hoặc loài thai-sanh, hoặc loài thấp-sanh, hoặc loài hóa-sanh, hoặc loài có hình-sắc, hoặc loài không-hình-sắc, hoặc loài có-tư-tưởng, hoặc loài không-tư-tưởng, hoặc loài chẳng-phải-có-tư-tưởng, mà cũng chẳng-phải-không-tư-tưởng, thời Ta đều làm cho được diệt-độ, và đưa tất cả vào nơi vô-dư niết-bàn. Diệt-độ vô-lượng, vô-số, vô-biên chúng-sanh như thế, mà thiệt không có chúng-sanh nào là kẻ được diệt-độ cả. Tại sao vậy? Này, Tu-Bồ-Đề! Nếu vị Bồ-tát còn có tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng-sanh, tướng thọ-giả, thời chẳng phải là Bồ-tát.

 

Tu Bồ Đề sau khi đắc đạo, Phật bèn nói với Tu Bồ Đề rằng, tất cả những đệ tử tu trì bồ tát đạo nên dựa theo pháp vô thượng “ như thế này ” mà ta đã nói để hàng phục cái tâm vọng tưởng, lại còn phải rời xa tứ tướng mới có thể khôi phục bổn lai diện mục thanh thanh tịnh tịnh. Phật đem chúng sanh quy nạp ra 10 loại tâm vọng tưởng, tuy diệt những nghiệp chướng ấy, độ họ siêu thoát luân hồi, khiến chúng sanh đều cùng quy về con đường giác; đấy là chúng sanh tự tánh tự độ, chẳng phải ta đã độ. Phật Thế Tôn đưa ra ví dụ bác sĩ trị bệnh về mắt khiến cho mắt của người bệnh nhìn thấy lại ánh sáng; ánh sáng là của bản thân người bệnh chứ chẳng phải là do bác sĩ cho anh ta, đạo lý cũng như vậy.

 

Phần thứ 4 của Kim Cang Kinh càng nhấn mạnh các hành giả Bồ Tát phải hành bố thí chẳng có trụ tướng thì công đức mới giống như hư không trên dưới bốn phương, chẳng có giới hạn, chẳng thể nghĩ bàn; cho nên nhấn mạnh việc không được trụ sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp mà bố thí, chấp trước tướng bố thí, bao gồm : tham trụ sự khen ngợi của người khác, hy vọng đắc được sự cúng dường, tham nhận hưởng thụ của ngũ vị, mưu cầu theo đuổi sự an dật thoải mái và vinh quang của sắc thân, tham trước hưởng thụ những dục vọng cảm xúc của thân thể, và tồn cái tâm phân biệt so đo, có cái nhìn Nhân Ngã xấu…đều sẽ nhiễu loạn hoặc làm mê hoặc bổn tánh thanh tịnh. Nếu có thể tu bố thí vô trụ tướng diệu hạnh thì bổn tánh sẽ không bị vọng cảnh làm cho dao động, nhất định có thể khôi phục tánh thể vốn dĩ thanh tịnh. Phật Thế Tôn đem tâm pháp vô thượng “ nên trụ tâm như thế này, hàng phục thân tâm như thế này ” truyền thụ cho Tu Bồ Đề, lại chỉ rõ phải hành bố thí chẳng có trụ tướng mới có thể khôi phục chơn diện mục vốn có, minh tánh phục sơ (明性復初). Phật Thế Tôn chỉ sợ rằng người đời tu hành mà chấp trước tướng, nên lại hỏi rằng : “Tu-Bồ-Đề! Ý của ông nghĩ sao? Có thể do nơi thân tướng mà thấy Như-Lai chăng?"

 

"Bạch đức Thế-Tôn! Không thể do nơi thân tướng mà thấy được Như-Lai. Bởi vì sao? Vì đức Như-Lai nói thân-tướng đó chính là chẳng phải thân-tướng."

 

Đức Phật bảo ông Tu-Bồ-Đề: " Phàm hễ có tướng đều là hư-vọng cả! Nếu nhận thấy các tướng đều là không phải tướng, chính là thấy Như-Lai".

 

Tu Bồ Đề đứng đầu trong việc hiểu về Không, đã khai ngộ kiến tánh. Khi đức Phật hỏi người tu hành có thể dùng nhục nhãn ( mắt thịt ) để thấy được pháp thân của bản thân mình chăng ? Tu Bồ Đề trả lời rằng pháp thân là vô hình chân không thật tướng, cho nên chẳng thể dựa vào nhục nhãn thân tướng mà nhìn thấy. Phật lại bảo với Tu Bồ Đề rằng cái pháp mà ông nói vô cùng chính xác; chẳng những bổn tánh không thể dựa vào sắc thân nhục nhãn để nhìn thấy, phàm là tất cả mọi tướng của thế gian đều là hư vọng chẳng thực tế, cuối cùng trở về sự tiêu diệt. Nếu có thể thấy tất cả các tướng mà không chấp trước ở tướng của chúng, mà biết thấu rõ cái thân này là giả tướng hư vọng của tứ đại giả hợp thì có thể nhìn thấy pháp thân thật trong cái giả tướng rồi. Tu Bồ Đề thông qua sự khai thị của Phật Thế Tôn nên đã có chỗ liễu ngộ đối với tâm tánh, bèn thỉnh thị với Phật rằng : “Bạch đức Thế-Tôn! Như có chúng-sanh nào được nghe những câu trong bài giảng- giải như vậy, mà sanh lòng tin là thiệt chăng?"

 

( nguyên bản trong tiếng hoa : 「世尊!頗有眾生,得聞如是言說章句,生實信不?」- Bạch Đức Thế Tôn ! Như có chúng sanh nào được nghe chương cú ngôn thuyết như thế này, mà sanh lòng tin là thiệt chăng ? )

 

Đức Phật bảo ông Tu-Bồ-Đề: "Ông chớ nói lời ấy! Sau khi đức Như-Lai diệt-độ, năm trăm năm sau, có người trì-giới, tu phước, có thể sanh lòng tin nơi những câu trong bài nầy mà cho đó là thiệt, thời phải biết rằng người ấy chẳng phải chỉ vun trồng căn-lành từ nơi một đức Phật, hai đức Phật, ba, bốn, năm đức Phật, mà người đó đã vun-trồng căn-lành từ nơi vô-lượng nghìn muôn đức Phật rồi.

 

Tu Bồ Đề đã đắc được tự tánh tam bảo, chỉ sợ rằng người đời sau chẳng tin, do vậy mới có câu hỏi như vậy. Cái gì gọi là tự tánh tam bảo đây ? “如是như thế này ” tức là Linh Sơn hoặc gọi là Bồ đề tự tánh, tức là bảo thứ nhất mà Nhất Quán Đạo đã truyền : “ huyền quan khiếu ”. “言說- Ngôn thuyết ” tức là bí ngôn bí ngữ của “ thiên lý tầm Minh Sư, vạn lý cầu khẩu quyết ”, cũng là bảo thứ hai mà Nhất Quán Đạo đã truyền : “ khẩu quyết ”; “章句 Chương cú ” tức là một trang văn chương có các đoạn rõ ràng, trật tự rõ ràng, có đầu có đuôi, kết cấu chặt chẽ, lối văn mạch lạc, chính là bảo thứ 3 mà Nhất Quán Đạo đã truyền : “ hợp đồng ”. Ở trên, Tu Bồ Đề chỉ ra việc chúng sanh được nghe “ như thế này ”, “ ngôn thuyết ”, “ chương cú ” 3 món mật bảo vô thượng này, những người có thiện căn rất lớn, tự nhiên nhất định sẽ tín thụ phụng hành, thế nhưng đại đa số chúng sanh đều có thể sanh lòng tin thật sự sao ? Phật Thế Tôn bảo với Tu Bồ Đề rằng, 3 món phật pháp vô cùng sâu xa vi diệu này chẳng những hiện tại có, tương lai cũng sẽ có người tin sâu chẳng nghi, vả lại vào lúc Phật Thế Tôn niết bàn 2500 năm về sau, có rất nhiều những người rộng tu phước điền, trì giữ giới luật có thể đắc được ấn chứng ở trong kinh này, tự có thể tin cho là thật, đấy là vì phước đức của họ lũy kiếp đã tích được, họ tu hành không chấp tướng, chỉ là khôi phục lại bổn lai diện mục thanh tịnh mà thôi. Do vậy tâm pháp mà phật thế tôn truyền thụ cho các ông giống như chiếc bè qua sông. Khi đến được bờ bên kia thì phải xả bỏ chiếc bè đi, huống hồ những tà thuyết ngoại đạo chẳng phải là phật pháp càng nên xả bỏ đi toàn bộ. Từ xiển thuyết ở đây, càng ấn chứng sự thật và sự tôn quý của đại đạo phổ truyền. Chúng ta phải chánh tín chẳng nghi và ca ngợi sự tôn quý và thù thắng của chân lý đại đạo.

 

6. Vô đắc vô thuyết, y pháp xuất sanh

 

Phật Thế Tôn lần nữa từ bi chỉ thị rằng tu bàn đạo phải từ bỏ tất cả mọi sự chấp trước, cho nên ngài lại hỏi Tu Bồ Đề hai vấn đề, một là : “Đức Như-Lai có chứng được quả Vô-thượng Chánh-đẳng Chánh-giác chăng?”, hai là “Đức Như-Lai có nói pháp chăng?”. Trí tuệ của Tu Bồ Đề rất cao, nhanh chóng trả lời rằng : “Như con hiểu ý nghĩa của Phật nói, thời không có pháp nhứt định nào, gọi là Vô-thượng Chánh-đẳng Chánh-giác, cũng không có pháp nhứt định nào, mà đức Như-Lai có thể nói được. Bởi vì sao? Vì pháp của đức Như-Lai nói, đều không thể vin lấy, không thể nói được, chẳng phải pháp, chẳng phải "không-phải-pháp". Tại vì sao? Vì tất cả Hiền-Thánh, đều do nơi pháp vô-vi mà có từng-bực khác nhau".

 

Tu Bồ Đề cho rằng tâm pháp mà đức Như Lai đã nói đều là ứng cơ mà nói ( ứng với cơ duyên của chúng sanh mà nói ), chỉ có thể tâm lãnh ý hội ( đối phương chẳng có nói rõ nhưng trong lòng mình đã lãnh hội được ), chẳng thể nói bằng lời, cũng giống như uống nước vậy, nóng lạnh tự biết; cho nên những cái mà phật đã nói là chẳng phải pháp ( tuy có mà lại chẳng có ), chẳng phải "không-phải-pháp" ( tuy chẳng có mà lại có ), tổng gọi là pháp vô vi, nghĩa là tất cả mọi Thánh Hiền cũng là dựa vào cái pháp vô vi này để tự tu, chỉ là căn cơ có sâu có cạn, khai ngộ có sự khác biệt của nhanh chậm mà thôi. Tiếp theo, Phật Thế Tôn tự động đưa ra vấn đề để hỏi Tu Bồ Đề rằng : "Tu-Bồ-Đề! Ý của ông nghĩ thế nào? Như có người đem bảy thứ báu, đầy cả cõi tam-thiên, đại-thiên, để làm việc bố-thí, phước-đức của người đó đặng, có nhiều hay chăng?" Tu-Bồ-Đề bạch rằng: "Bạch đức Thế-Tôn, rất nhiều! Tại làm sao? Vì phước-đức đó, chính là không phải thật phước-đức, cho nên đức Như-Lai nói là phước-đức nhiều".

 

Phật Thế Tôn lại hỏi Tu Bồ Đề rằng, bây giờ có người đem thất bảo của tam thiên đại thiên thế giới, chỉ vàng, bạc, lưu li, mã não, thủy tinh, san hô, trân châu …để hành bố thí thì phước đức của người đó có nhiều hay chăng ? Tu Bồ Đề đáp rằng : phước đức đương nhiên rất nhiều. Phật lại nói rằng đấy chỉ là phước báo của nhân thiên, bản thân phước báo chẳng có tự tánh; phước báo thật sự chính là :

 

"Còn như có người, nơi trong kinh nầy, nhẫn đến thọ-trì một bài kệ bốn câu v.v... lại giảng nói cho người khác, thời phước-đức nầy trội hơn phước-đức trước. Bởi vì sao? Nầy Tu-Bồ-Đề! Tất cả các đức Phật, và pháp Vô-thượng Chánh-đẳng Chánh-giác của các đức Phật, đều từ kinh này mà có ra

 

Ý của Phật Thế Tôn là nếu như có người dựa theo bát nhã chánh pháp trong kinh này để tu trì, cho đến thọ trì 4 câu kệ của phần thứ hai “phải trụ tâm như thế nào, nên hàng-phục tâm mình như thế nào?, phải trụ tâm như thế nầy, phải hàng-phục tâm mình như thế nầy ”, tự mình khai ngộ kiến tánh, lại độ hóa chúng sanh, cũng có thể đắc đạo, giải thoát những phiền não của sanh lão bệnh tử. Loại phước báo này lớn hơn nhiều so với phước báo của việc bố thí thất bảo của tam thiên đại thiên thế giới, bởi vì tất cả Chư Phật đều là dựa theo chánh pháp bát nhã này để tu trì mới có thể vãng sanh lý thiên. Từ những xiển thuật của chương này, có thể thấy công đức của việc độ người cầu đạo, tu đạo, thành đạo là lớn biết bao !

 

7. Nhất tướng vô tướng, trang nghiêm tịnh độ

 

Phần trước Phật Thế Tôn đã nói qua, người tu hành đối với tất cả mọi phật pháp đều không được chấp trước, nhất định cần phải dựa theo pháp vô vi để tiến tu; đối với quả vị của tương lai cũng không được chấp trước tướng. Nếu có thể phá tướng phá đến cực điểm thì có thể trừ tận tất cả vọng niệm; vọng niệm một khi đã trừ hết rồi thì tự tánh tự nhiên hiển lộ ra ngoài; đấy là ý nghĩa Phật diễn thuyết nhất tướng phi tướng.

 

Phật Thế Tôn lại giảng giải cho Tu Bồ Đề đề tài cao thâm hơn. Phật Thế Tôn chỉ ra rằng việc học Phật chia làm Đại thừa, Trung thừa, và Tiểu thừa …cái gọi là Tiểu Thừa, mục đích là trước hết cầu sự giải thoát của bản thân, chia thành tứ quả La Hán, tức Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hoàn, A Na Hàm, A La Hán…. Làm thế nào mới có thể tu đến tứ quả ? nhất định cần phải có thể dứt bỏ kiến hoặc và tư hoặc. Kiến hoặc có 5 cái, đó là : thân kiến, biên kiến, kiến thủ kiến, tà kiến, giới cấm thủ kiến; nếu khai triển mở rộng ra dục giới khổ tập diệt đạo tổng cộng có 32 hoặc; về phần sắc giới, vô sắc giới thì có 28 hoặc, tổng cộng gồm 37 đạo phẩm. Tư hoặc cũng có 5 loại, chính là tham, sân, si, mạn, nghi. Đấy là tập tánh mà rất nhiều người sinh ra đã có, rất khó trừ bỏ đi. Những người tu hành bình thường là từ pháp tiểu thừa tu đến đại thừa. Phật khen ngợi Tu Bồ Đề đã chứng đắc quả A La Hán, đã đạt đến bên trong chẳng có tâm tham muốn, bên ngoài chẳng có dục cảnh, chẳng có cái niệm của tứ quả. Tu Bồ Đề trả lời rằng ông ta đã tâm Không tướng diệt, chẳng có cái niệm đầu rằng đắc đạo và đắc quả, nên mới gọi là người tu hành yêu thích tịch tịnh. Tiếp theo, Phật bảo với Tu Bồ Đề rằng : "Ý của ông nghĩ thế nào? Thuở xưa, hồi ở chỗ đức Phật Nhiên-Đăng, đức Như-Lai có chứng đắc nơi pháp chăng?

 

"Bạch đức Thế-Tôn! Không. Hồi ở chỗ đức Phật Nhiên-Đăng, nơi pháp, đức Như-Lai thiệt không có chỗ chứng đắc."

Trọng điểm của đoạn thoại này là Phật Thế Tôn bảo với Tu Bồ Đề rằng, ngài được sự chỉ điểm của Nhiên Đăng Cổ Phật về bổn tánh, chỉ là chỉ điểm thay cho, khai đạo ( chỉ dẫn về ) bẩm tánh khí chất mà thôi, vẫn là phải dựa vào tự tánh tự độ, tự ngộ tự tu để rõ bổn lai diện mục, bởi vì tự tánh bồ tát là bảo vật của tự gia ( nhà mình ), vốn dĩ chẳng có đắc, nhưng do chẳng có đắc mới sanh đại giác ngộ, đại giải thoát, đúng là nơi pháp thật chẳng có đắc. Lại những người bình thường chấp trước ở sự trang nghiêm của chùa miếu, tượng phật, đấy đều là kiến giải trần tục của trần tướng, chẳng phải là sự trang nghiêm thật sự của pháp tướng; người ngộ đạo nên vô sở trụ ( chẳng có chỗ trụ ) để ngưng vọng tâm mới có thể nhất tâm bất loạn, thì bổn tánh tự nhiên thanh tịnh; bên trong cái nhục thân - cái pháp thân vượt ra khỏi ngoài hình thể sẽ tự nhiên trang nghiêm. Cái pháp thân như vậy mới là cái thân lớn thật sự.

 

8. Vô vi phước thắng, tôn trọng chánh giáo

 

Chương trên nói về cái thân lớn bất sanh bất diệt; bây giờ Phật lại giảng về vấn đề của phước báo, dựa vào pháp hữu vi để hành bố thí thì cái phước báo ấy vẫn ở bên trong của luật nhân quả, như mũi tên bắn vào hư không, cuối cùng cũng rơi xuống. Do vậy, Phật Thế Tôn lại hỏi Tu Bồ Đề rằng : “ nếu có thiện nam tín nữ, lấy một hạt cát xem làm một thế giới, dùng thất bảo đầy nhiều như hằng hà sa số tam thiên đại thiên thế giới để bố thí, được phước đức nhiều chăng ? Tu Bồ Đề đáp rằng : “ bạch đức Thế Tôn ! rất nhiều ”

 

Phật hỏi rằng bất kể tất cả nam hoặc nữ trên thế giới, dùng thất bảo tôn quý nhất của thế gian đầy khắp hằng hà sa số tam thiên đại thiên thế giới đều đem bố thí cho người khác, phước báo lớn như thế có nhiều hay không ? Tu Bồ Đề đáp rằng, người này làm việc thiện nhiều như thế này, phước báo quả thật quá lớn rồi, thế nhưng vẫn còn có phước báo lớn hơn, là vì sao vậy ? là như thế này : “ nếu thiện nam tín nữ nơi trong một chương một cú của kinh này, thọ trì nhẫn đến một bài kệ bốn câu, diễn thuyết cho người ta nghe, thì cái phước đức của pháp thí này lại càng nhiều hơn cái phước đức của việc thí bảo bối đã nói trước đó.

 

Phật lại nhấn mạnh lần nữa, phàm là những phật tử đắc đạo đã hiểu rõ “ nên trụ tâm như thế này, hàng phục tâm như thế này ” có thể thật sự lãnh ngộ chân lý, bảo trì gìn giữ cảnh giác, lại chỉ dẫn cho người khác, giải thích thuyết minh cho người khác, loại công đức này vô lượng vô biên, lớn hơn nhiều so với phước báo của việc dùng tài bảo của toàn thế giới để hành bố thí, bởi vì cái phước báo này là cái phước thanh tịnh vô vi, chứ chẳng phải là cái hồng phước trên thế gian. Đoạn này một lần nữa lại nhấn mạnh công đức độ hóa chúng sanh là vô lượng vô biên. Do vậy, bát nhã chánh pháp có công đức thù thắng như vậy, Chư Phật Bồ Tát đều là được nghe bát nhã chánh pháp này mà tu trì thành tựu. Cho nên những chúng sanh của thời mạt pháp, muốn được nghe bát nhã chánh pháp này vô cùng khó được, do vậy phần thứ 12 của Kim Cang Kinh là Tôn trọng chánh giáo nói rằng : “ Này Tu-Bồ-Đề! Lại nữa, tùy chỗ nào giảng nói kinh nầy, nhẫn đến một bài kệ bốn câu v.v... phải biết chỗ này, tất cả Trời, Người, A-Tu-La... trong đời, đều nên cúng-dường như là tháp miếu thờ đức Phật. Huống nữa là, có người nào hay thọ-trì, đọc-tụng, trọn cả kinh nầy! Nầy Tu-Bồ-Đề! Phải biết người ấy thành-tựu pháp tối-thượng, hy-hữu bực nhứt.

 

Còn nếu kinh điển nầy ở tại chỗ nào, thời chỗ đó chính là có đức Phật, hoặc có hàng tôn-trọng Đệ-Tử của Phật."

Đoạn này nói về uy lực của Kim Cang Kinh, là nói phước đức của tự tánh hơn hẳn phước đức của sự trước tướng, và Kim Cang Kinh khi truyền thừa cũng ấn chứng bát nhã chánh pháp, cho nên nơi mà có kinh điển này tồn tại, bất kể thiên đạo, nhân đạo, quỷ thần, A Tu La …đều phải đến để lễ kính cúng dường, lại nữa kinh điển là chỉ dẫn cho chúng sanh con đường minh tâm kiến tánh, kinh này cũng là nơi mà bản thân chơn phật cư trú, do vậy nếu lại có người có thể thọ trì đọc tụng, cũng có nghĩa là sau khi đã hiểu rõ đạo lý thì kỉ lập lập nhân, kỉ đạt đạt nhân, đem bát nhã chánh pháp này quảng độ hữu duyên, khiến cho những người hữu duyên trong thiên hạ đều có thể cùng trở về con đường giác, nhất định có thể thành tựu phật quả hy hữu nhất, lại thời thời khắc khắc hành trú tọa ngọa ( đi, ở, ngồi, nằm ) chẳng rời tự tánh thanh tịnh, thời thời khắc khắc cùng ở bên phật ( phật tự tánh ), sao có thể chẳng tôn trọng sự phổ truyền của chánh giáo ?

 

9. Như pháp thọ trì, li tướng tịch diệt

 

Kim Cang Kinh từ phần thứ nhất cho đến phần thứ 10 đều là giảng giải sự phá tướng hiển chơn, nên chẳng có chỗ trụ, phương pháp tu trì mà mọi thứ chẳng nhiễm. Phần 11, phần 12 nhấn mạnh sự tôn quý của bát nhã chánh pháp; phần 13 lại lần nữa diễn thuyết phương pháp tu đạo. Tu Bồ Đề thỉnh thị Phật Thế Tôn về cương lĩnh thọ trì bát nhã chánh pháp, trước hết phải có sự điểm truyền của Minh Sư về chỗ vi diệu của “ nên trụ như thế này ”, lại dựa theo bí pháp của Kim Cang Bát Nhã để tu trì, ý nghĩa là thành tâm tu trì thì có thể lãnh ngộ cái đạo lý của vô trụ vô tướng, có thể sanh diệu trí tuệ kim cang kiên cố sắc bén, sáng rõ chẳng có gì mà không soi chiếu, dùng diệu trí tuệ để đạt đến bến bờ bên kia. Phật pháp thật sự vốn dĩ là chẳng có định pháp ( pháp cố định chẳng đổi ) , cũng giống như bác sĩ kê mở phương thuốc dựa theo triệu chứng của người bệnh mà kê mở cho những thuốc khác nhau. Nó là siêu vượt tất cả mọi tôn giáo, triết học, hình thức, cũng chính là nói trí tuệ thành tựu thật sự tức chẳng phải là bát nhã ba la mật, trí tuệ đã đến cực điểm rồi là cảnh giới chẳng có trí tuệ mới là trí tuệ thật sự, do vậy nói rằng : “ đức Phật nói Bát-nhã Ba-la-mật, chính chẳng phải Bát-nhã ba-la-mật, đó gọi là Bát-nhã Ba-la-mật ”

 

Phật Thế Tôn đưa ví dụ chẳng những nhỏ như vi trần, lớn như đại thiên thế giới, nghĩa là 32 tướng mà Như Lai đã nói đều là một cái tên giả của Không mà thôi, Phật Thế Tôn giải thích thuyết minh dẫn dắt theo thứ tự tiến dần như thế chẳng qua là muốn chúng ta phá trừ tất cả mọi chấp trước mới có thể nhìn thấy được tự tánh Như Lai của chúng ta; còn về pháp tu trì, ngoài trừ giới định tuệ ra, còn có 37 đạo phẩm ( bap gồm tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như ý định, ngũ căn, ngũ lực, thất giác chi, bát chánh đạo ) đều là những chánh pháp để tu hành. Phật lại lần nữa nhấn mạnh rằng, nếu có người ở trong kinh này, cho đến thọ trì 4 câu kệ, diễn thuyết cho người ta nghe thì công đức ấy là chẳng cách nào tính đếm được. Tu Bồ Đề nghe kinh khai ngộ, đã lãnh ngộ được rằng nếu nhìn thấy các tướng chẳng phải là tướng, tức thấy đạo lý của Như Lai, tán thán sự thù thắng của việc Phật thuyết bộ Kim Cang Kinh này khiến cho chúng sanh có thể thu được thật tướng toàn chơn của bên trong tự tánh thanh tịnh, và lại lần nữa giảng giải thuyết minh rằng Phật diệt độ 2500 năm về sau, nếu có người lắng nghe kinh này, lại được Minh Sư điểm truyền bát nhã chánh pháp, có thể đốn ngộ chơn không, rời xa tứ tướng, trong tâm chẳng có nghi ngờ, chẳng có tâm sợ hãi, vả lại tinh tiến chẳng thoái chuyển, nên biết loại người này căn cơ rất sâu dày. Phật lại dẫn đưa ví dụ lúc làm vị nhẫn nhục tiên nhân 500 năm trước, bị vua Ca Lợi chặt đứt thân thể, bởi vì tu hạnh nhẫn nhục, rời xa tứ tướng mới được cái quả chẳng có tứ tướng; có thể thấy rằng tu đạo là phải nhờ tích lũy từ từ, chẳng phải một sớm một chiều có thể thành được, cho nên công phu quan trọng nhất của việc tu đạo là trước tiên phải trừ bỏ đi cái tâm sân hận, lại rời xa tứ tướng mới có thể tu công phu nhẫn nhục để đạt đến ngoài trần bất nhập, nội tâm chẳng nhiễm, phá trừ tứ tướng, ngay đến cả cái niệm đầu Không cũng chẳng có thì tịch diệt ( niết bàn -  cảnh giới lý tưởng siêu thoát sanh tử luân hồi ) hiện ra trước mắt.

 

10. Công đức trì kinh, có thể tịnh nghiệp chướng

 

Chương trên giải thích rõ chân lý về nhẫn nhục xả thân để phá trừ ngã chấp, lại tiến thêm một bước phải khai ngộ bát nhã chánh pháp, thọ trì kinh điển bên trong bổn tánh, lập kỉ đạt nhân thì công đức của pháp tánh có được là chẳng thể nghĩ bàn. Chúng sanh từ vô thủy kiếp đến nay, lục đạo luân hồi chẳng ngưng, những tội nghiệp đã tạo ra chồng chất như núi, dẫn đến sự mê muội của bổn tánh và những kiếp nạn liên tục. Phật Thế Tôn chỉ ra rằng vạn pháp duy chỉ có tâm tạo, lục trần chẳng phải là có, ngũ uẩn vốn dĩ Không, nếu có thể đi sâu vào tu trì bát nhã chánh pháp, liễu ngộ đạo lý của chư pháp không tướng, lại dựa theo nguyện lực của Lão Tổ Sư thì tất cả mọi hư vọng đều sạch hết, nhất tánh viên minh. Cho nên duy chỉ có dựa theo bát nhã chánh pháp, thành tâm tu bàn mới có thể tịnh hóa tất cả mọi nghiệp chướng, đấy là điều mà Phật Thế Tôn bảo đảm với chúng ta, thế nhưng bản thân cũng phải có 3 phần công tích và đức hành, gặp được lớp đại sám hối thì ơn trên mới có 7 phần khai xá ( khoan dung tha thứ xá tội ). Phần thứ 15 của Kim Cang Kinh nói rằng : “ Như có người nào, có thể thọ-trì, đọc-tụng, giảng nói rộng ra cho người khác nghe, thời đức Như-Lai đều biết rõ người ấy, đều thấy rõ người ấy, thảy đều được thành-tựu công-đức không thể lường được, không thể cân được, không có ngằn mé, không thể nghĩ bàn được.

Những người như thế, chính là người gánh vác pháp Vô-thượng Chánh-đẳng Chánh-giác của đức Như-Lai.

Đấy là lần thứ 4 Phật Thế Tôn nhắc đến công đức thành tựu của việc trì kinh, cho nên các tôn giáo chính là căn cứ theo lời phật đã nói, công đức của việc độ người cầu đạo tu đạo để đạt siêu sanh liễu tử, rời khổ được vui là lớn nhất. Bởi vì những người có đại căn cơ đã nhận được sự chỉ điểm của Minh Sư, đi sâu vào tu trì bát nhã chánh pháp, lại tồn tâm lợi kỉ độ nhân, khắp nơi đi hoằng dương bát nhã chánh pháp, quảng độ hữu duyên, là khế hợp với tâm từ bi độ hóa chúng sanh của Phật Thế Tôn, lại có thể phù hợp với ý chỉ phổ độ Tam Tào của ơn trên, do vậy mà Thiên Long Bát Bộ, chư thiên thần nhân đều đến để hộ pháp; loại người này đã thành tựu công đức vô lượng vô biên như vậy thì đủ để đảm nhiệm truyền nhân của chánh pháp vô thượng bồ đề của Như Lai. Hiện nay đại đạo phổ truyền, có vô số các vị Tiền Nhân, Điểm Truyền Sư, Đàn chủ, Giảng Sư, Nhân tài …đang đảm nhiệm gánh vác vai trò người truyền đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác của đức Như Lai, mới có thể đem đại đạo phổ truyền đến vạn quốc cửu châu trên toàn thế giới. Phần thứ 16 của Kim Cang Kinh lại lần nữa nói rằng : “ Nầy Tu-Bồ-Đề! Phải biết rằng, vì nghĩa-lý của kinh nầy chẳng thể nghĩ-bàn được, nên quả-báo cũng không thể nghĩ-bàn được! 

 

Đấy là lần thứ 5 nhắc đến công đức của việc thọ trì đọc tụng kinh này, chẳng những có thể khiến cho chúng ta minh tâm kiến tánh, tiêu trừ nghiệp chướng, vĩnh viễn rời khỏi nỗi khổ của lục đạo luân hồi, cho nên nói nghĩa kinh vô cùng sâu, chẳng thể suy lường, có thể đại khai trí tuệ; nếu có thể nhận lý thật tu, buông xuống tất cả mọi sự chấp trước, quảng độ hữu duyên, chẳng tồn công đức độ người và sự cao thấp của quả vị tương lai, chỉ là tận hết bổn phận của mình để đi làm mà thôi; như thế công đức vô lượng, quả báo cực sâu, chẳng phải bút mực có thể thuật lại hết được.

 

Số lượt xem : 338